Quy trình giải quyết thu hồi nợ của Ngân hàng

Gia đình tôi cách đây 13 năm có vay của Ngân hàng số tiền là 30 triệu đồng. Khi khoản nợ đến hạn trả nhưng do kinh tế khó khăn nên nhà tôi không có tiền trả nợ Ngân hàng. Ngân hàng đã tới và niêm phong nhà tôi. Tuy nhiên, sau đó nhà tôi đã phá cửa vào ở cho tới bây giờ. Nhưng mới đây, Ngân hàng Nông nghiệp lại có giấy gửi về nhà tôi và đòi khoản nợ gốc là 20 triệu, lãi tính là gần 80 triệu, tổng là gần 100 triệu. Vậy tôi xin hỏi, nhà tôi có phải trả khoản nợ trên không? Nếu trả có phải trả cả lãi không (Vì hơn 10 năm họ không thông báo trả nợ, đến nay lại đòi số tiền lãi nhiều như vậy). Nếu nhà tôi chỉ trả gốc thì có được trả lại sổ đỏ không? (Hiện nay sổ đỏ nhà tôi vẫn bị ngân hàng giữ). Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi xin cảm ơn !

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật Dân sự năm 2005

- Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

- Nghị định số 163/2005/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm ( sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 11/2012/NĐ-CP)

Nội dung tư vấn:

Gia đình bạn vay tiền nên  phải thực hiện nghĩa vụ của khách hàng vay quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 24 Quyết định 1627/QĐ-NHNN như sau:

" 2. Khách hàng vay có nghĩa vụ:

a) Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp;

b) Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác;

c) Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghia vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng."

Quyền của tổ chức tín dụng được quy định cụ thể tại điểm e khoản 1 điều 25 quyết định như sau:

 " e) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn;"

Như vậy khi khoản nợ đến hạn thì Ngân hàng cầnthực hiện theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch đảm bảo như sau:

" Điều 61. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý tài sản bảo đảm cho các bên cùng nhận bảo đảm khác theo địa chỉ được lưu giữ tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.

( sửa đổi tại Nghị định số 11/2012/NĐ-CP như sau:

" 16. Sửa đổi khoản 1 Điều 61 như sau:

“1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý tài sản bảo đảm cho các bên cùng nhận bảo đảm khác theo địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm” )

2. Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị, quyền đòi nợ, giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm, vận đơn thì người xử lý tài sản có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.

3. Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm có nội dung chủ yếu sau đây:

a) Lý do xử lý tài sản;

b) Nghĩa vụ được bảo đảm;

c) Mô tả tài sản;

d) Phương thức, thời gian, địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.

4. Trong trường hợp người xử lý tài sản không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại cho các bên cùng nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm đã được đăng ký thì phải bồi thường thiệt hại."

Về nghĩa vụ trả nợ:

Căn cứ quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì:

" Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, trường hợp này có thể hiểu rằng đã đến hạn mà bên vay là bố bạn không trả hoặc trả không đầy đủ thì bố bạn phải trả cả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

 

Bạn cần liên hệ trực tiếp với tổ chức tín dụng mà bố bạn đã vay tiền tìm hiểu rõ về số nợ cũng như có thể gia hạn về thời gian trả nợ, thỏa thuận để tìm được hướng giải quyết phù hợp nhất.

bám trái
bảm phải